|
Trước đây, pháp luật tố tụng dân sự không có quy định cụ thể việc giao nộp chứng cứ nên khi đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ cho Tòa án, các Thẩm phán đưa vào trong hồ sơ mà không thể hiện rõ tài liệu, chứng cứ đó do ai nộp, ai thu… gây khó khăn cho việc sử dụng, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và không loại trừ việc thất lạc chứng cứ mà không biết. Do đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể về vấn đề này để đảm bảo cho tài liệu, chứng cứ không bị thất lạc, sửa chữa... đồng thời đảm bảo giá trị pháp lý trong quá trình sử dụng, việc giao nộp chứng cứ phải được thực hiện theo trình tự thủ tục nghiêm ngặt.
Xuất phát từ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, điều 6 và điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án. Do đó nếu bất kỳ đương sự nào trong vụ án đang quản lý chứng cứ mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ cho Tòa án thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Giao nộp chứng cứ chỉ là một hành vi vụ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặt biệt mà pháp luật quy định đương sự không có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thì việc họ không giao nộp không được coi là căn cứ để xét xử bất lợi cho họ.
Ví dụ: chứng cứ đó có liên quan đến bí mất Nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mất đời tư…
Trong trường hợp này, mặc dù đương sự không có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án nhưng điều đó không có nghĩa là đương sự không thể cho Tòa án biết nội dung chứng cứ đó. Đương sự không có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ, do đó Tòa án không lưu trong hồ sơ chứng cứ này, các đương sự khác không được biết cụ thể chứng cứ này nhưng để việc xét xử được đúng đắn thì đương sự đang quản lý chứng cứ vẫn phải báo cho Thẩm phán xét xử vụ án biết được nội dung của chứng cứ đó.
Trước đây, pháp luật tố tụng dân sự không có quy định cụ thể việc giao nộp chứng cứ nên khi đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ cho Tòa án, các Thẩm phán đưa vào trong hồ sơ mà không thể hiện rõ tài liệu, chứng cứ đó do ai nộp, ai thu… gây khó khăn cho việc sử dụng, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và không loại trừ việc thất lạc chứng cứ mà không biết. Do đó, để đảm bảo cho tài liệu, chứng cứ không bị thất lạc, sửa chữa đồng thời đảm bảo giá trị pháp lý trong quá trình sử dụng, việc giao nộp chứng cứ cần phải được thực hiện theo trình tự thủ tục nghiêm ngặt.
Xuất phát từ thực tiễn đó, khoản 2 điều 84 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định rõ trách nhiệm của Tòa án khi tiếp nhận chứng cứ cụ thể như sau: khi đương sự giao nộp chứng cứ, Tòa án phải lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số bản, số trang của tài liệu chứa đựng chứng cứ, thời gian nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và đóng dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu trong hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ.
Trường hợp đương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt có công chứng, chứng thực. Nếu đương sự chưa gửi kèm bản dịch thì Thẩm phán phải hướng dẫn cho đương sự là họ phải đi dịch tài liệu đó và gửi bản dịch cho Tòa án.
(Nguyễn Hồ Thanh Bạch - Tòa án nhân dân Quận 6, 26/06/2008)
|
|